Thứ Năm, Tháng Mười Hai 9, 2021
Trang chủKiến Thức ForexPhương pháp Wyckoff – 4 chu kỳ và 3 quy luật cốt...

Phương pháp Wyckoff – 4 chu kỳ và 3 quy luật cốt lõi

Trong những phương pháp tiếp cận thị trường ngoại hối như phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật thì còn có một phương pháp khác, được tạo ra từ sự kết hợp giữa hai phương pháp trên chính là phương pháp Wyckoff. Cũng giống như những phương pháp còn lại, phương pháp Wyckoff được sử dụng để phân tích nguyên nhân cũng như tìm thấy thời gian xảy ra biến động thị trường và mức độ là bao nhiêu. Bài viết hôm nay thitruong-vn.com sẽ gửi đến bạn những thông tin chi tiết về phương pháp Wyckoff, cũng như những quy luật liên quan.

Tổng quan về Richard Demille Wyckoff

Tổng quan về Richard Demille Wyckoff

Richard Demille Wyckoff (02/11/1873 – 07/03/1934).  Ông bắt đầu sự nghiệp trên thị trường tài chính vào năm 15 tuổi, bằng vị trí nhân viên nhập lệnh cho một công ty môi giới ở New York. Sau hơn 10 năm làm việc và tích lũy kinh nghiệm, ông đã tự mở một công ty môi giới riêng của mình và từ đó ông cũng bắt đầu tìm hiểu về logic đằng sau những hành động của thị trường.

Ông đã phát triển phương pháp Wyckoff bằng cách hệ thống hóa các phương pháp giao dịch hay nhất thông qua việc trò chuyện, phỏng vấn và nghiên cứu về các nhà giao dịch thành công cùng thời như Jesse Livermore, E. H. Harriman, James R. Keene, Otto Kahn, J.P. Morgan…, cộng với kinh nghiệm và phương pháp giao dịch của bản thân thành các quy luật, nguyên tắc, kỹ thuật giao dịch, quản lý tiền và kỷ luật tinh thần.

Ông đã vận dụng phương pháp của mình vào thị trường tài chính, cụ thể là chứng khoán và gia tăng được tài sản của mình thành một khối tài sản rất lớn. Sau khi giàu có hơn nhờ phương pháp giao dịch của mình, ông bắt đầu niềm đam mê giảng dạy và xuất bản.

Vào những khoảng thời gian đầu phương pháp Wyckoff chỉ được ứng dụng vào cổ phiếu, nhưng ngày nay, phương pháp này vẫn được sử dụng trên các loại thị trường tài chính khác nhau như tiền tệ, hàng hóa, trái phiếu và các thị trường tài chính trực tuyến như forex hay tiền điện tử. Cho đến tận bây giờ, phương pháp Wyckoff vẫn đang là một phần quan trọng trong chương trình đào tạo sau đại học của Golden Gate University ở San Francisco, Mỹ và được rất nhiều nhà đầu tư vận dụng thành công vào các giao dịch hằng ngày của mình trên thị trường.

Phương pháp Wyckoff là gì?

Wyckoff đã đưa ra một mô hình về cách vận động của giá – Wyckoff Price Cycle, thường được gọi là mô hình Wyckoff. Mô hình này thực chất là một phương pháp phân tích dựa trên các quy luật về diễn biến của thị trường.

Những cách tiếp cận lý thuyết và thực tế của phương pháp Wyckoff đối với thị trường bao gồm:

  • Hướng dẫn xác định cổ phiếu tiềm năng để vào các lệnh mua hoặc bán
  • Phân tích kênh dao động, tích lũy và phân phối
  • Cách sử dụng biểu đồ Point and Figure để xác định mục tiêu giá cả

Wyckoff cho rằng trong thị trường chứng khoán không có gì là dứt khoát và giá cổ phiếu được điểu khiển bởi cảm xúc của con người. Các nhà đầu tư không thể mong đợi cùng một mô hình chính xác lặp lại theo thời gian. Tuy nhiên, một mô hình hay hành vi thị trường tương tự vẫn sẽ có khả năng lặp lại và vẫn có thể nắm bắt để có lợi nhuận nếu phân tích được thị trường một cách khôn ngoan.

Hai quy tắc mà Wyckoff cho rằng các nhà giao dịch cần ghi nhớ:

  • Quy tắc 1: Thị trường sẽ không lặp lại tuyệt đối 2 lần. Các diễn biến thị trường thường dựa trên một kiểu hành vi cơ bản nhưng có những sự chỉnh sửa tinh tế, sự so sánh và những phát kiến bất ngờ.
  • Quy tắc 2: Thị trường hôm nay phải được so sánh với những diễn biến trước đó. Hành vi của thị trường ngày hôm nay chỉ có ý nghĩa đáng kể khi đặt trong tương quan so sánh với thị trường trong ngày hôm qua, trong tuần trước, tháng trước, thậm chí là năm trước.

Bốn điểm chính trong phương pháp Wyckoff:

  • Xác định xu hướng
  • Các mô hình đảo chiều
  • Dự báo giá
  • Vị trí trong xu hướng

Mặc dù nguyên bản phương pháp này hoàn toàn tập trung vào cổ phiếu, nhưng các nhà đầu tư cũng có thể áp dụng phương pháp Wyckoff cho bất kỳ thị trường giao dịch tự do nào mà các nhà giao dịch tổ chức lớn hoạt động, bao gồm các loại hàng hóa, trái phiếu và tiền tệ.

Những quy luật trong phương pháp Wyckoff

Quy luật Cung – Cầu

Quy luật Cung – Cầu giúp xác định hướng đi của giá. Wyckoff quan niệm rằng đây là quy luật cốt lõi trong phương pháp giao dịch khi Cầu lớn hơn Cung thì giá của một sản phẩm sẽ tăng. Tương tự, nếu Cung lớn hơn Cầu thì giá sẽ giảm. Nếu Cung và Cầu ngang bằng nhau thì giá sẽ duy trì.

Trên thị trường, khi một người muốn mua thì phải có một người sẵn sàng bán. Chính vì thế mà thị trường luôn luôn cần có người mua và người bán. Quá trình trao đổi giữa người mua và người bán tạo nên thanh khoản của thị trường. Tính thanh khoản của thị trường thường được thể hiện thông qua chỉ báo khối lượng trên biểu đồ giúp các nhà đầu tư nhận ra được những bước chân của dòng tiền thông minh.

Quy luật Nguyên Nhân – Kết quả

Quy luật Nguyên Nhân – Kết quả

Quy luật Nguyên nhân – Kết quả giúp xác định mục tiêu của giá. Quy luật này có ý nghĩa rằng trên thị trường không phải tự nhiên nó diễn ra như vậy mà tất cả đều có “nguyên nhân” từ đó tạo nên “kết quả” đến với thị trường.

Khi giá của một cổ phiếu biến động mạnh mẽ đều có nguyên nhân. Có quan niệm cho rằng thị trường xây dựng “nguyên nhân” trong các giai đoạn mà hành động giá giằng co đi ngang (tích lũy) và sau đó nó sẽ tạo ra “kết quả” (phá vỡ/phá thủng vùng tích lũy) khiến xu hướng giá tăng hoặc giảm. “Nguyên nhân” (vùng tích lũy) càng lớn thì “kết quả” (xu hướng) sẽ càng mạnh và ngược lại.

Quy luật Nỗ lực – Kết quả

Quy luật Nỗ lực – Kết quả

Quy luật Nỗ lực – Kết quả cảnh báo sự đảo chiều sớm của thị Nói cách khác, hành động giá khi tăng/giảm cần phải đi kèm với khối lượng để biết rằng đây là tín hiệu đáng tin cậy. Không có nỗ lực sẽ không sinh ra kết quả. Sự phân kỳ của giá và khối lượng giao dịch thường là dấu hiệu cảnh báo sớm về sự thay đổi xu hướng trong tương lai.

Ví dụ: Nhiều phiên giao dịch nến có khối lượng lớn (Nỗ lực lớn) nhưng thân nến lại nhỏ sau 1 đợt tăng/giảm giá theo xu hướng, và giá không thể tạo đỉnh/đáy mới thì điều này gợi ra rằng dòng tiền thông mình đang dần rút khỏi thị trường và tiềm năng có thể xảy ra sự đảo chiều trong tương lai.

“Composite man” và 4 chu kỳ của phương pháp Wyckoff

Wyckoff đã đưa ra khái niệm “Composite man” – người vận hành phía sau (các nhà giao dịch tổ chức, quỹ đầu tư…). Thị trường bao gồm. các hoạt động của rất nhiều người và tổ chức khác nhau, tuy nhiên Wyckoff cho rằng mọi người nên nghiên cứu thị trường như thể nó là kết quả hoạt động của một người duy nhất.

Trên thực tế, hành vi của các nhà giao dịch cá nhân thường đi ngược lại với tổng thể thị trường, hay chính là ngược lại với “Composite man”, và thường đem đến sự thua lỗ cho họ. Do đó, Wyckoff cho rằng các nhà giao dịch cá nhân nên hành động theo “Composite man”, vì chiến lược của những “ông lớn” này hoàn toàn có thể học hỏi được.

Từ khái niệm Composite man, có thể thấy một mô hình về chu kỳ của thị trường gồm bốn giai đoạn: tích lũy, tăng trưởng, phân phối và suy thoái. Đây chính là mô hình về cách vận động giá – Wyckoff Price Cycle.

“Composite man” và 4 chu kỳ của phương pháp Wyckoff

Giai đoạn Tích lũy

Trong giai đoạn này, xu hướng thị trường sẽ đi ngang, đây là thời điểm mà những tên tuổi lớn bắt đầu sẽ tích lũy tài sản, một số tiền lớn sẽ được đổ vào thị trường từ đây để làm giá cả biến động không quá nhiều.

Giai đoạn Tăng giá

Sau khi thị trường bước qua giai đoạn tích lũy, nó sẽ đi đến giai đoạn tăng giá. Khi mà các nhà đầu tư sở hữu số lượng cổ phiếu lớn và lực bán giảm đi, thì lúc này phe mua sẽ đẩy giá lên và xu hướng mới được hình thành.

Trong giai đoạn này, những người bên ngoài thị trường sẽ tham gia vào mua cổ phiếu nhiều hơn khiến cho cầu lớn hơn cung và giá ngày càng tăng cao hơn. Bên cạnh đó, không hẳn là trong giai đoạn này giá lúc nào cũng sẽ tăng, đôi lúc sẽ có những giai đoạn tạm nghỉ (tích lũy ngắn) thì giá sẽ đi ngang hoặc giai đoạn suy thoái nhỏ sẽ khiến giá giảm xuống trong một đoạn thời gian ngắn, xảy ra trước khi giai đoạn tăng giá này được diễn ra tiếp tục.

Giai đoạn Phân phối

Những nhà đầu tư thấy có lợi nhuận cao sau khi đã thỏa mãn nhu cầu mua cổ phiếu, họ sẽ phân phối tài sản của mình cho các nhà đầu tư tham gia muộn hơn bằng việc bán ra để lấy lời. Ở giai đoạn này, họ sẽ rất khôn khéo để giá không bị đi xuống và thị trường lúc này được thể hiện bởi một xu hướng ngang.

Giai đoạn Giảm giá

Ở giai đoạn này, hầu hết các nhà đầu tư bắt đầu bán cổ phiếu ra thị trường, từ đó đẩy thị trường đi xuống, lúc này cung vượt cầu sẽ khiến giá cả giảm đi thấy rõ.

Ở giai đoạn Giảm giá này tiến độ sẽ diễn ra nhanh hơn gấp nhiều lần so với các giai đoạn trên. Bởi vì những “ông lớn” thì ai cũng sẽ mong muốn mình thoát khỏi vị thế và tình cảnh hiện tại, nên họ sẽ bán tài sản của họ đi rất nhanh và giá thị trường cũng sẽ giảm theo.

Tương tự như quá trình tăng giá thì ở quá trình này không phải lúc nào giá cũng giảm mà sẽ có những giai đoạn ngắn thị trường điều chỉnh tăng nhẹ hoặc tái phân phối trước khi chúng tiếp tục với đà giảm mạnh của mình. Khi giai đoạn này kết thúc, một chu kỳ mới được thiết lập.

Sơ đồ Wyckoff trong chu kỳ tích lũy và phân phối

Hai giai đoạn quyết định đến tình hình thị trường trong bốn chu kỳ của mô hình Wyckoff chính là tích lũy và phân phối. Wyckoff cũng đã xây dựng các mô hình thể hiện các sự kiện diễn ra trong hai giai đoạn này. Mỗi chu kỳ này được chia ra làm 5 giai đoạn từ A đến E, và trong đó có nhiều sự kiện được diễn ra, cụ thể như sau:

Sơ đồ chu kỳ tích lũy

Sơ đồ chu kỳ tích lũy

Các sự kiện diễn ra trong quá trình tích lũy

  • PS (preliminary support – hỗ trợ cơ sở): bắt đầu xuất hiện một lượng mua đáng kể sau một đợt giảm giá dài hạn, báo hiệu xu hướng giảm có thể sắp kết thúc.
  • SC (Selling Climax – Cao điểm Bán): thời điểm mà áp lực bán được đẩy lên đỉnh điểm. Tại điểm này, giá sẽ đóng cửa phía trên các đáy cũ, phản ánh hành động bắt đầu mua vào của những thế lực lớn.
  • AR (Automatic Rally – Biểu tình tự động): có thể hiểu đây là một đợt hồi phục diễn ra một cách tự nhiên. Áp lực bán đã giảm đi đáng kể cộng với lực mua mới đã đẩy giá lên cao.
  • ST (Secondary Test – Thử nghiệm thứ cấp): là lúc mà thị trường kiểm tra lại vùng giá của sự kiện SC để kiểm tra cung cầu. Khi giá tiếp cận đến khu vực đáy của SC để test vùng hỗ trợ, khối lượng giao dịch và chênh lệch giá sẽ giảm đáng kể. Có thể có một, hai hoặc nhiều ST sau một SC.
  • Test (Kiểm tra): các thế lực lớn thường kiểm tra lại nguồn cung trong suốt TR (phạm vi giao dịch – Trading Range) hoặc tại các vị trí quan trọng của giai đoạn tăng giá. Nếu nguồn cung tăng đáng kể sẽ đẩy giá xuống sâu và chứng tỏ thị trường chưa sẵn sàng cho xu hướng tăng. Một lần kiểm tra thành công là khi giá tạo đáy cao hơn và khối lượng giao dịch giảm.
  • SOS (Sign of Strength – Dấu hiệu của sức mạnh): là lúc khối lượng giao dịch và biến động giá ngày càng tăng.
  • LPS (Last Point of Support – Điểm hỗ trợ gần nhất): là mức đáy cuối cùng được tạo ra sau SOS. Trong sơ đồ giai đoạn tích lũy, có thể có nhiều hơn một điểm LPS mặc dù định nghĩa của nó là “cuối cùng”.
  • BU (Back-up): là một thuật ngữ được đặt ra bởi Robert Evans, một giáo viên hàng đầu của phương pháp Wyckoff từ những năm 1930-1960. Theo ông, BU có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như pullback hoặc là một TR mới ở mức cao hơn trước khi hình thành SOS.

Các giai đoạn nhỏ trong sơ đồ Tích lũy

  • Giai đoạn A: đánh dấu xu hướng trước đó có sự chậm lại, cung vượt cầu và có sự xuất hiện của sự kiện PS và SC.
  • Giai đoạn B:giai đoạn tích lũy cổ phiếu giá thấp để đón một xu hướng tăng mới.
  • Giai đoạn C: giai đoạn sẽ có một bài test quan trọng, giúp mọi nhà đầu tư xác định được giá cổ phiếu đã sẵn sàng tăng chưa.
  • Giai đoạn D:thời điểm phá vỡ ngưỡng kháng cự của vùng TR, xu hướng tăng mới bắt đầu.
  • Giai đoạn E: giai đoạn thoát ra khỏi TR, cầu vượt cung. Các TR mới có thể xảy ra bất kỳ lúc nào và đây được xem là bước đệm để giá tăng cao hơn.

Sơ đồ chu kỳ phân phối

Quá trình phân phối diễn ra với các sự kiện và giai đoạn ngược lại với tích lũy, nhưng bản chất thì khá giống nhau.

Sơ đồ chu kỳ phân phối

Tham khảo thêm:

Các sự kiện trong chu kỳ phân phối

  • PSY (preliminary supply – nguồn cung sơ bộ): tài sản bắt đầu được bán ra sau chu kỳ tăng. Khối lượng thường tăng rõ rệt đi kèm biên độ lớn của giá.
  • BC (buying climax – cao trào mua):khối lượng và biên độ giá tiếp tục tăng, lực mua lên đỉnh điểm và giá dường như có thể đạt mức cao nhất tại đây.
  • AR (automatic reaction – phản ứng tự động):Sau BC, lực mua giảm sút đáng kể, nguồn cung tăng dần và bắt đầu có những đợt bán.
  • ST (secondary test – thứ nghiệm thứ cấp): giá quay lại khu vực BC để kiểm tra cung cầu, test lại các mốc kháng cự. Để test thành công thì cung phải lớn hơn cầu, khối lượng giao dịch giảm và biến động giá cũng ít hơn.
  • SOW (sign of weakness – dấu hiệu suy yếu): nguồn cung chiếm ưu thế, thể hiện qua việc khối lượng và biên độ giá tăng trong khi giá dần giảm xuống.
  • LPSY (last point of supply – nguồn cung cuối cùng):một đợt phục hồi yếu ớt với biên độ hẹp cho thấy thị trường không còn sức đẩy giá tăng lên. Những đợt bán cuối cùng cũng diễn ra tại đây.

Các giai đoạn trong chu kỳ phân phối

  • Giai đoạn A: là thời điểm báo hiệu sự kết thúc của xu hướng tăng trước đó.
  • Giai đoạn B: là thời điểm mà composite man bắt đầu bán, cũng được coi là khởi nguồn của nguyên nhân trong quy luật Nhân – Quả.
  • Giai đoạn C: giai đoạn này thường thực hiện một bài test cuối cùng đẩy giá tăng lên, và cũng tạo một bẫy giá cho các nhà giao dịch thiếu kinh nghiệm.
  • Giai đoạn D: đánh dấu sự bắt đầu của một xu hướng giảm mới. Giai đoạn này gần như là phản chiếu của giai đoạn D trong chu kỳ tích lũy.
  • Giai đoạn E: giai đoạn cuối cùng của giai đoạn Phân phối đánh dấu sự khởi đầu của một xu hướng giảm giá, với sự phá vỡ rõ ràng xuống dưới phạm vi giao dịch do cung áp đảo mạnh mẽ so với cầu.

Những bước tiếp cận thị trường

Phương pháp Wyckoff đề cập đến quy trình 5 bước để tiếp cận thị trường, lựa chọn cổ phiếu tiềm năng và tham gia giao dịch.

  • Bước 1: Xác định xu hướng

Xác định xu hướng gồm thông qua việc phân tích cấu trúc thị trường và mối quan hệ cung-cầu mà nhận định xu hướng hiện tại và dự đoán hướng đi của giá trong tương lai. Đánh giá về xu hướng trong tương lai sẽ giúp nhà đầu tư quyết định có nên tham gia vào thị trường hay không và tham gia ở vị thế nào?

  • Bước 2: Lựa chọn cổ phiếu thuận xu hướng

Trong một xu hướng tăng, lựa chọn những cổ phiếu có mức tăng tương đối so với thị trường hay nói cách khác là so với chỉ số của thị trường. Đó là những cổ phiếu có khả năng tăng cao hơn khi thị trường phục hồi và khả năng giảm thấp hơn hoặc vẫn tăng khi thị trường hiệu chỉnh.

  • Bước 3: Lựa chọn cổ phiếu có “Nguyên nhân” tối thiểu bằng với mục tiêu giá của mình

Phương pháp của Wyckoff xác định mục tiêu giá dựa vào độ dài của giai đoạn tích lũy/phân phối (khi thị trường đi ngang). Trong quy luật Nhân-quả, số P&F ( trong Point & Figure chart) đi ngang trong phạm vi giao dịch thể hiện “nhân” và mức độ chuyển động tiếp theo của giá chính là “quả” cho cả giao dịch ngắn hạn hay dài hạn. Chính vì vậy, các nhà đầu tư dài hạn nên chọn những cổ phiếu đang trong giai đoạn tích lũy hoặc tái tích lũy đủ lâu để có thể đáp ứng được mục tiêu giá của mình.

  • Bước 4: Xác định khả năng phá vỡ của giá

Sau khi chọn được cổ phiếu đang trong các giai đoạn tích lũy, hãy xem xét liệu nó đã sẵn sàng phá vỡ phạm vi giao dịch để mang lại lợi nhuận cho mình hay chưa.

  • Bước 5: Xác định thời gian thích hợp để tham gia vào thị trường

Wyckoff cho rằng chỉ nên tham gia vào thị trường khi các yếu tố của cổ phiếu phù hợp với các yếu tố chung của thị trường.

Tổng kết

Nhìn chung các nguyên tắc và quy luật của phương pháp Wyckoff khá đơn giản. Tuy nhiên, để thực hành và vận dụng chúng một cách hiệu quả vào các giao dịch thực tế lại vô cùng khó khăn. Hy vọng thông qua bài viết trên, các nhà đầu tư sẽ hiểu rõ bản chất của phương pháp này và biết cách ứng dụng chúng vào quy trình phân tích thị trường và lựa chọn cổ phiếu tiềm năng. Chúc bạn thành công.

5/5 - (1 bình chọn)

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

CÁC BÀI VIẾT KHÁC
CHỨNG KHOÁN QUỐC TẾ
REVIEW SÀN
CHỨNG KHOÁN VN