Thứ Năm, Tháng Mười Hai 9, 2021
Trang chủChứng khoánChuyện lạ trái phiếu của ngân hàng

Chuyện lạ trái phiếu của ngân hàng

Chuyện lạ trái phiếu của ngân hàng

Vì sao lại có nhà đầu tư chấp nhận tìm trái phiếu của ngân hàng mang lãi suất phát hành rẻ tới thế, chỉ bằng hoặc thậm chí thấp hơn trần lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn dưới sáu tháng. Cần chăng lợi ích về tài chính ko nên là mục tiêu chính của mọi nhà đầu tư này?

VPBank đã có 15 đợt phát hành trái phiếu mang trị giá 8.900 tỉ đồng. Ảnh: HỒNG TÂN

Lãi suất phát hành trái phiếu thấp kỷ lục

Sau giai đoạn trầm lắng trong quí 1-2021, thị trường trái phiếu siêu thị (TPDN) trở nên nhộn nhịp trở lại từ đầu quí 2. Số liệu từ Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam cho thấy, trong tháng 5-2021 có 46 đợt phát hành TPDN riêng lẻ trong nước mang tổng giá trị phát hành 28.410 tỉ đồng, trong ấy nhóm ngân hàng tiếp tục dẫn đầu mang tổng giá trị phát hành đạt 18.485 tỉ đồng, chiếm tỷ trọng ưu tú hơn 65%.

Theo ấy, chỉ trong hai tháng đầu quí 2 mọi ngân hàng đã phát hành tổng cùng 33.674 tỉ đồng, trong ấy có 5.574 tỉ đồng trái phiếu tăng vốn cấp 2, còn lại phần lớn trái phiếu tổ chức tín dụng phát hành có kỳ hạn 2-3 năm, mang lãi suất thấp chỉ từ 3,7-4,2%/năm. Mọi ngân hàng phát hành nhiều nhất có thể đề cập tới như VPBank 15 đợt mang giá trị 8.900 tỉ đồng, TPBank sáu đợt mang 5.000 tỉ đồng, ACB ba đợt 5.000 tỉ đồng và VIB ba đợt 4.000 tỉ đồng.

Hai ngân hàng có thể thỏa thuận đầu tư trái phiếu kỳ hạn 2-3 năm lẫn nhau thông qua ủy thác vốn cho mọi tổ chức khác để giúp tăng nguồn vốn trung, dài hạn, đồng thời cùng nhau chấp nhận lãi suất phát hành ở mức thấp hơn tiền gửi để kéo giảm chi phí vốn đầu vào.

Nhưng điều đáng chú ý nhất ko nên là lượng trái phiếu phát hành nhiều hay ít, mà là mức lãi suất phát hành thấp kỷ lục ở mọi trái phiếu kỳ hạn 2-3 năm của một số ngân hàng.

Như TPBank có ba đợt phát hành trái phiếu kỳ hạn ba năm mang tổng giá trị 2.600 tỉ đồng, lãi suất 3%; 3,8%; 4,1%/năm. SHB hôm 18-5 phát hành 1.000 tỉ đồng trái phiếu kỳ hạn hai năm mang lãi suất cố định 3,8%/năm.

Trước ấy vào tháng 4, VIB cũng đã có đợt phát hành 1.000 tỉ đồng trái phiếu kỳ hạn ba năm, lãi suất 4%/năm; ACB phát hành 2.000 tỉ đồng trái phiếu kỳ hạn ba năm cùng ở mức lãi suất 4%/năm.

Điểm ngạc nhiên thứ nhất là vì sao có nhà đầu tư chấp nhận tìm mang lãi suất phát hành rẻ tới thế, chỉ bằng hoặc thậm chí thấp hơn trần lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn dưới sáu tháng hiện nay và bí quyết xa mức lãi suất 6-7% đối mang tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên. Cần chăng lợi ích về tài chính ko nên là mục tiêu chính của mọi nhà đầu tư này?

Thứ hai là trong lúc mọi ngân hàng lớn khác như BIDV, VietinBank đang phát hành trái phiếu kỳ hạn dài để tăng vốn tự có mang lãi suất theo bình quân thị trường 6,5-7%/năm, thì vì đâu mà nhóm mọi ngân hàng nhỏ hơn lại có lợi thế phát hành mang chi phí vốn thấp hơn đáng đề cập, dù kỳ hạn ko nên là quá chênh lệch?

Ai là người tìm?

Quan sát cho thấy người tìm trái phiếu trong mọi đợt phát hành vừa qua của mọi ngân hàng chủ yếu là mọi công ty chứng khoán (CTCK), vốn đáp ứng được điều kiện là nhà đầu tư giỏi để có thể tham gia mọi đợt phát hành riêng lẻ. Thật ra, việc mọi CTCK chấp nhận tìm trái phiếu mang lãi suất thấp như trên cũng mang lại nhiều gợi ý.

Thứ nhất, trong bối cảnh thị trường chứng khoán vẫn đang diễn biến thuận lợi và tăng trưởng tích cực, vì sao mọi tổ chức này ko dành vốn để tự doanh kiếm thêm lợi nhuận hoặc cho vay ký quỹ mang lãi suất cao hơn rất nhiều? Cần chăng mọi tổ chức này nhìn nhận triển vọng sắp tới của thị trường cất đựng nhiều rủi ro hơn so mang lợi nhuận kỳ vọng, nên chuyển dịch bớt nguồn vốn sang mọi tài sản an toàn có thu nhập cố định như trái phiếu?

Giả dụ nhìn vào mọi động thái thoái vốn liên tiếp từ cuối năm ngoái tới nay của mọi CTCK tại mọi siêu thị niêm yết trên sàn, nhằm tận dụng diễn biến thị trường đang tăng tốt, nghi ngờ trên ko nên là thiếu cơ sở. Ngoại trừ ra, mang nguồn vốn chủ sở hữu tăng mạnh nhờ hàng loạt thương vụ phát hành thêm cổ phiếu, cũng như nguồn vốn huy động thông qua mọi sản phẩm hợp tác đầu tư mang khách hàng, cũng giúp mọi CTCK càng dồi dào vốn để đa dạng hóa lựa chọn đầu tư.

Cần nói thêm, trường hợp vốn dư thừa, trường hợp lựa chọn gửi tiết kiệm dài hạn lãi suất tuy cao hơn nhưng trường hợp lúc cần vốn buộc nên rút trước hạn thì lãi suất sẽ tính theo ko kỳ hạn, ở mức 0-0,2%. Trong lúc ấy, mọi CTCK thường nên tiêu dùng vốn linh hoạt chạy theo diễn biến của thị trường chứng khoán. Do ấy, lựa chọn tìm trái phiếu, dù lãi suất thấp, nhưng có lẽ hợp lý hơn, vì cho phép nhóm này được bán lại cho tổ chức phát hành hoặc chuyển giao cho mọi nhà đầu tư khác mang lợi ích ko bị sứt mẻ quá lớn.

Đáng lưu ý, một số trường hợp cho thấy mọi CTCK tìm trái phiếu ngân hàng cũng có mối liên hệ trực tiếp mang ngân hàng phát hành hoặc lãnh đạo mọi ngân hàng này. Đơn cử như người tìm trái phiếu SHB là hai CTCK trong nước và tổ chức tư vấn, đại lý phát hành và tổ chức đăng ký, lưu ký trái phiếu đều là CTCK Sài Gòn – Hà Nội. Hay như người tìm trái phiếu TPBank là hai CTCK và tổ chức đăng ký và lưu ký trái phiếu TPBank là Công ty cổ phần Chứng khoán Tiên Phong (TPS),…

Cuộc chơi nhiều toan tính

Ngoại trừ những lý do về khả năng thừa vốn và đa dạng hóa đầu tư như đã đề cập trên, ko loại trừ khả năng mọi ngân hàng đang ủy thác vốn cho mọi CTCK để đầu tư trái phiếu chéo lẫn nhau, nhằm đẩy nguồn vốn trung, dài hạn tăng lên về mặt sổ sách, nhất là lúc nhu cầu tiêu dùng vốn trung, dài hạn của mọi ngân hàng tư nhân có thế mạnh về bán lẻ luôn rất lớn, trong lúc tỷ lệ tiêu dùng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn ngày càng bị thắt chặt và sẽ tiếp tục giảm từ 40% về còn 37% đề cập từ đầu tháng 10 tới.

Trong lúc ấy, nguồn vốn trung, dài hạn của mọi ngân hàng hiện nay chủ yếu nằm ở vốn chủ sở hữu, giấy tờ có giá và tiền gửi dài hạn, nhưng phần lớn cũng chỉ là tiền gửi kỳ hạn 12-13 tháng. Sở hữu quy định tính theo kỳ hạn còn lại, mọi khoản tiền gửi 12-13 tháng sau ấy sẽ sớm bị loại ra khỏi nguồn vốn trung, dài hạn lúc tính mọi tỷ lệ an toàn, do ấy nhu cầu huy động vốn trung, dài hạn luôn thường trực tại mọi ngân hàng.

Cũng cần biết rằng mang mọi trái phiếu phát hành kỳ hạn từ năm năm trở lên, mọi ngân hàng phát hành sẽ được tính vào vốn tự có cấp 2, nhưng đối mang những ngân hàng nào tìm lượng trái phiếu này đồng nghĩa mang việc nên tự loại trừ giá trị vốn đã bỏ ra tìm khỏi vốn tự có cấp 2 của mình. Quy định này nhằm ngăn chặn tình trạng sở hữu chéo và hỗ trợ lẫn nhau để tăng vốn ảo của mọi ngân hàng.

Tuy nhiên, trong trường hợp trái phiếu kỳ hạn dưới năm năm thì sẽ ko bị ảnh hưởng bởi quy định trên. Theo ấy, mọi ngân hàng có thể mạnh dạn đầu tư vào trái phiếu phát hành kỳ hạn 2-3 năm của ngân hàng khác mà ko sợ làm giảm vốn tự có. Vì vậy, hai ngân hàng có thể thỏa thuận đầu tư trái phiếu kỳ hạn 2-3 năm lẫn nhau thông qua ủy thác vốn cho mọi tổ chức khác để giúp tăng nguồn vốn trung, dài hạn, đồng thời cùng nhau chấp nhận lãi suất phát hành ở mức thấp hơn tiền gửi để kéo giảm chi phí vốn đầu vào.

Trong quá khứ đã từng chứng kiến việc mọi CTCK, dù mang danh là đầu tư trái phiếu ngân hàng, nhưng thực tế mọi công ty này chỉ là trung gian, tham gia tìm trên thị trường sơ cấp để bán lại trên thị trường thứ cấp, và ngân hàng mới là người tìm cuối cùng. Rõ ràng nhìn vào khả năng tạo lợi nhuận lúc đầu tư vào cổ phiếu và cho vay ký quỹ của mọi CTCK, thật khó có lý do để họ sẵn sàng chấp nhận đầu tư trái phiếu mang lãi suất thấp như thế.

Cuối cùng, trường hợp thật sự có tình trạng mọi ngân hàng sở hữu chéo mọi trái phiếu của nhau, điều này về bản chất đã làm sai lệch quy mô nguồn vốn trung, dài hạn trong hệ thống mọi tổ chức tín dụng, giảm hiệu quả của chính sách điều hành, cũng như tạo ra cung – cầu ảo về hoạt động phát hành và đầu tư trái phiếu, khiến cho thị trường này bị méo mó khó đoán định.

Thụy Lê

Đánh giá bài viết

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

CÁC BÀI VIẾT KHÁC
CHỨNG KHOÁN QUỐC TẾ
REVIEW SÀN
CHỨNG KHOÁN VN